"Bộ tứ trụ cột" đưa Việt Nam bứt phá

Bốn Nghị quyết lớn của Bộ Chính trị được xem là "Bộ tứ trụ cột" để giúp Việt Nam cất cánh, hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững trong thời kỳ mới.

Nền móng cho chặng đường phát triển mới

Năm 2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoạch định chính sách phát triển đất nước khi hàng loạt quyết sách lớn của Đảng đồng loạt đi vào triển khai.

Từ định hướng chiến lược về kinh tế - xã hội, cải cách bộ máy, đổi mới phươg thức lãnh đạo đến nâng cao tiềm lực quốc phòng an ninh, "bộ tứ Nghị quyết" không chỉ đặt nền móng cho chặng đường phát triển mới mà còn tạo khung khổ hành động xuyên suốt cho cả hệ thống chính trị.

Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 66 và Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị, sáng 18/5, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, 4 Nghị quyết lớn đã cùng tạo nên một chỉnh thể thống nhất về tư duy và hành động chiến lược cho sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Mặc dù mỗi Nghị quyết tập trung vào một lĩnh vực trọng yếu, song chúng liên kết chặt chẽ, bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình quán triệt và tổ chức thực hiện.

4 Nghị quyết này gồm: Nghị quyết 57 về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết 59 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết 66 về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật và Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân.

"Bộ tứ trụ cột" đưa Việt Nam bứt phá - Ảnh 1.

Đại biểu Trần Hoàng Ngân - Uỷ viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội (Ảnh: Media Quốc hội).

Từ thực tiễn quản lý và hoạch định chính sách, trao đổi với Người Đưa Tin, đại biểu Trần Hoàng Ngân - Uỷ viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội nhấn mạnh, "bộ tứ Nghị quyết" được Bộ Chính trị ban hành chỉ trong vòng 5 tháng, đây không chỉ là những chính sách đơn lẻ, mà là bước ngoặt trong tư duy và nhận thức, tạo tiền đề cho một cuộc cách mạng phát triển kinh tế mới của đất nước.

Theo ông Ngân, nếu muốn đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP từ 8,3 - 8,5% trong năm nay và tăng trưởng 2 con số từ năm 2026 trở đi để đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao như mục tiêu Đại hội XIII của Đảng và nguyện vọng của toàn dân, thì phải bứt phá, đặc biệt là ở khu vực kinh tế tư nhân.

"Đây là khu vực chiếm tỉ trọng lớn nhưng đang đối mặt với nhiều rào cản về thể chế, pháp lý, môi trường kinh doanh. Do đó, phải có sự tăng tốc đó thì chúng ta mới có thể sánh vai với các cường quốc năm châu", ông Ngân nói.

Đối với Nghị quyết 57, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra mạnh mẽ, để tăng tốc nhanh Việt Nam phải lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực xuyên suốt. Các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ từ y tế, giáo dục đến thương mại... đều cần ứng dụng công nghệ cao để nâng cao năng suất và hiệu quả.

"Bộ tứ trụ cột" đưa Việt Nam bứt phá - Ảnh 2.

Bốn Nghị quyết lớn của Bộ Chính trị được xem là "Bộ tứ trụ cột" để giúp Việt Nam cất cánh, hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững trong thời kỳ mới (Ảnh: Hữu Thắng).

Phân tích thêm, đại biểu Trần Hoàng Ngân nói rằng, trong 40 năm Đổi mới, Việt Nam luôn tăng trưởng đều, GDP bình quân khoảng 6,4 - 6,5%, cao nhất năm 1995 là 9,54%, thấp nhất là 2,6% vào năm đại dịch 2021. Nhưng để "tăng tốc, cất cánh", cần phải vượt ngưỡng 8 - 10% và giữ vững đà tăng trưởng này.

"Đây là lý do vì sao Nghị quyết 57 lại mang ý nghĩa chiến lược đến vậy", đại biểu Trần Hoàng Ngân cho hay.

Tuy nhiên, để hiện thực hóa các chủ trương này, cần phải tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế. Bởi pháp luật là nền tảng để phát triển, nếu thể chế không thông thoáng, minh bạch và ổn định thì không thể tạo niềm tin và động lực cho doanh nghiệp, người dân và cả hệ thống chính trị.

"Nghị quyết 66 được xem là kim chỉ nam trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, bao gồm cả việc ứng dụng công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo để rà soát, đồng bộ, chống chồng chéo trong các văn bản pháp lý", đại biểu Trần Hoàng Ngân nói thêm.

Hiệu ứng lan toả

Điều đáng mừng là khi các chính sách được đưa vào thực thi đã tạo hiệu ứng lan toả và mang lại kết quả tích cực rõ nét. Điển hình là làn sóng lạc quan đã lan tỏa trong cộng đồng doanh nghiệp khi số liệu 7 tháng đầu năm 2025 ghi nhận sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Theo đó, 7 tháng năm 2025 có trên 174.000 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường, tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trên 3,3 triệu tỷ đồng, tăng 94% so với cùng kỳ và gần 536.200 hộ kinh doanh thành lập mới, tăng 165%.

Theo báo cáo từ Bộ Tài chính, những con số tăng trưởng phản ánh niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp vào triển vọng phục hồi, phát triển kinh tế đang được củng cố. Đồng thời, điều này cũng cho thấy những chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân từ Nghị quyết 68 đã bắt đầu đi vào cuộc sống, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội.

Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam có 2 triệu doanh nghiệp, trong đó ít nhất 20 doanh nghiệp tư nhân lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Khu vực kinh tế tư nhân dự kiến đóng góp từ 55 - 58% GDP và chiếm khoảng 84 - 85% tổng số lao động làm việc trong nền kinh tế.

"Bộ tứ trụ cột" đưa Việt Nam bứt phá - Ảnh 3.

TS. Nguyễn Sĩ Dũng - nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách của Chính phủ (Ảnh: VGP).

TS. Nguyễn Sĩ Dũng - nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách của Chính phủ nói rằng, Nghị quyết 68 đã đi thẳng vào gốc rễ vấn đề: Từ cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh, số hóa toàn diện, đến bảo vệ quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh. Tư duy "xin - cho" được thay thế bằng tư duy phục vụ. Tiền kiểm sẽ chuyển thành hậu kiểm.

"Quan trọng hơn cả là doanh nghiệp được quyền tự do kinh doanh trong mọi lĩnh vực pháp luật không cấm, còn nếu có hạn chế thì phải có lý do chính đáng và quy định rõ trong luật. Nếu thực thi nghiêm túc, đây sẽ là một cuộc cách mạng trong môi trường đầu tư kinh doanh", ông Dũng nhìn nhận.

Ông Dũng cũng nhấn mạnh, Nghị quyết 68 lần đầu tiên đưa ra một thông điệp khoan dung nhưng trách nhiệm, là nếu sai phạm, cần tạo điều kiện để khắc phục, làm lại. Phân biệt rõ giữa pháp nhân và thể nhân, giữa tài sản hợp pháp và tài sản vi phạm - là để bảo vệ doanh nghiệp, khuyến khích tinh thần cống hiến thay vì triệt tiêu động lực kinh doanh.

"Đây là điểm nhân văn sâu sắc và cũng là điều kiện tiên quyết để thu hút đầu tư, khuyến khích đổi mới sáng tạo", TS. Nguyễn Sĩ Dũng cho hay.

Thay đổi văn hoá tín dụng nhìn từ Nghị quyết 68Nghị quyết 68: "Bên trên thì đã mở nhưng bên dưới vẫn ngất ngư vì thủ tục"Doanh nghiệp có Nghị quyết 68 như "nắng hạn gặp mưa rào"Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân: Mở đường cho đội ngũ doanh nghiệp lớn lên

Ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký, Trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, tinh thần của Nghị quyết 68 đã "thấm rất nhanh" vào các dự thảo luật, nghị định, thông tư của các bộ, ngành. Nhiều địa phương triển khai quyết liệt, thực chất.

Ông dẫn chứng: Huế thực hiện nhanh và có nhiều giải pháp cụ thể; Hà Nội triển khai "luồng xanh" với quy định một số thủ tục phải rút ngắn 60% thời gian, hoặc một số nhóm thủ tục yêu cầu các sở, ngành cho ý kiến trong vòng 24h.

Cộng động doanh nghiệp phấn khởi, dù vậy, ông Tuấn cho biết nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh rất nhạy cảm với thay đổi chính sách, do đó cần cơ chế đơn giản, minh bạch, ổn định.

"Các tiêu chí về phát triển doanh nghiệp tư nhân cần được xem là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của chính quyền các cấp như tăng trưởng doanh nghiệp mới, thu hút đầu tư, tỉ lệ hài lòng của doanh nghiệp tư nhân. Có như vậy mới tạo được động lực thực thi chính sách mạnh mẽ ở địa phương", ông Tuấn nêu quan điểm.

Với tầm bao quát rộng, "bộ tứ Nghị quyết" không chỉ định hình những mục tiêu chiến lược cho từng lĩnh vực, mà còn tạo ra một cấu trúc chính sách thống nhất, gắn kết giữa phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh và đổi mới phương thức lãnh đạo.

Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách cho rằng, từ nghị quyết đến hiện thực là một chặng đường dài, đòi hỏi sự chỉ đạo xuyên suốt, quyết tâm chính trị cao, cùng cơ chế giám sát chặt chẽ để bảo đảm các mục tiêu được lượng hóa, tiến độ được kiểm soát, và mọi nguồn lực được sử dụng hiệu quả.

Thành công của "bộ tứ Nghị quyết" sẽ không chỉ được đo bằng những con số tăng trưởng hay các chỉ tiêu hoàn thành, mà còn ở mức độ cải thiện chất lượng sống của người dân, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo dựng niềm tin xã hội đối với con đường phát triển mà Đảng và Nhà nước đã lựa chọn.